I. CHỈ ĐỊNH GHÉP THẬN
- Bệnh thận mạn giai đoạn cuối (mức lọc
cầu thận GFR < 15ml/ph/1,73m2 da) nguyện vọng được ghép thận.
- Khuyến cáo tất cả các người bệnh bệnh
thận mạn giai đoạn 4-5 (GFR < 30ml/ph/1,73m2 da) người được tiên
lượng sẽ chuyển đến bệnh thận giai đoạn cuối, ngoại trừ có các chống chỉ định
được thông báo, giáo dục và xem xét để
ghép thận.
- Tuổi cao không phải là một chống chỉ
định tuyệt đối cho việc ghép thận. Ghép thận có thể cải thiện tỷ lệ và thời
gian sống còn và chất lượng cuộc sống ở người bệnh trẻ mắc bệnh thận mạn giai
đoạn cuối và vẫn còn nhiều tranh luận về
việc ghép thận cho người bệnh lớn tuổi. Người bệnh cần được đánh giá toàn diện
trước ghép, cân nhắc giữa rủi ro và lợi ích có được. Ghép thận vẫn có thể làm
giảm tỷ lệ tử vong ở những người bệnh trên 65 tuổi so với các biện pháp điều
trị thay thế khác, tuy nhiên ở nhóm người bệnh lớn tuổi này cần chú ý đến bệnh
lý tim mạch kèm theo và cả ung thư có thể có từ trước.
- Có tình trạng toàn thân và tình trạng
mạch máu vùng chậu tốt để có thể tiến hành phẫu thuật ghép thận.
- Tình trạng tim mạch ổn định. Huyết áp
được kiểm soát tốt.
II. CHỐNG CHỈ ĐỊNH GHÉP THẬN
1.
Khuyến cáo không ghép thận đơn thuần
trong các người bệnh có tình trạng sau
−
Đa
u tủy xương: Bệnh lắng đọng chuỗi nhẹ hoặc lắng đọng chuỗi nặng trừ khi họ đã được
phác đồ điều trị có khả năng chữa khỏi và đang thuyên giảm ổn định
−
Bệnh
Amyloidois nguyên phát có các biểu hiện ngoài thận đáng kể
−
Bệnh
lý tim mạch, bệnh lý mạch vành nặng, suy hô hấp nặng, suy gan nặng có thể gây
tử vong trong và sau phẫu thuật ở giai đoạn sớm..
−
Bệnh
thoái hóa thần kinh trung ương tiến triển.
−
Bệnh
lý ác tính giai đoạn tiến triển hoặc giai đoạn muộn, khi không còn khả năng
chữa khỏi
2.
Trì hoãn ghép thận đối với các người
bệnh có tình trạng sau cho đến khi được quản lý tốt
−
Rối
loạn tâm thần không ổn định ảnh hưởng đến việc ra quyết định hoặc đặt ứng viên
ở mức không thể chấp nhận được của rủi ro sau cấy ghép.
−
Rối
loạn sử dụng chất kích thích đang diễn ra ảnh hưởng đến việc ra quyết định hoặc
đặt ứng viên ở mức không thể chấp nhận được nguy cơ sau khi cấy ghép
−
Hành
vi không tuân thủ liên tục, ảnh hưởng đến sức khỏe mặc dù được giáo dục và tư
vấn
−
Bệnh
ác tính hoạt động ngoại trừ những người có ung thư đơn độc và ung thư cấp thấp
như ung thư tuyến tiền liệt (điểm Gleason ≤ 6) và phát hiện tình cờ khối u thận (≤ 1 cm theo
đường kính lớn nhất)
−
Nhiễm
khuẩn cấp chưa kiểm soát là một nguyên nhân chính gây bệnh tật và tử vong ở
người bệnh được ghép thận, đặc biệt khi điều trị bằng ức chế miễn dịch mạnh.
Ngược lại, nhiễm khuẩn mạn tính không gây ra nguy cơ ngay sau ghép, cần tư vấn
và điều trị trước khi ghép hoặc có biện pháp dự phòng sau khi ghép cho người
bệnh.
−
Đa
số cơ sở y tế coi nhiễm HIV là chống chỉ định nhận thận, tuy nhiên hiện nay một
số trung tâm đã thực hiện ghép thận thành công cho người nhiễm HIV được kiểm
soát tốt tình trạng virus.
−
Bệnh
tim và bệnh động mạch ngoại có triệu chứng hoạt động (ví dụ: đau thắt ngực,
loạn nhịp tim, suy tim, bệnh van tim), cần được điều trị ổn định
−
Đột
quỵ gần đây hoặc cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua
−
Các
bệnh có triệu chứng hoạt động: bệnh loét dạ dày tá tràng, viêm túi thừa viêm
tụy cấp, sỏi mật, bệnh túi mật, viêm bệnh đường ruột
3.
Thời gian sống thêm kỳ vọng quá ngắn,
chủ yếu là do sự thiếu hụt tạng hiến.
4.
Phản ứng đọ chéo người cho - người
nhận dương tính có thể làm trì hoãn việc ghép thận và có thể là chống chỉ định
nếu không có biện pháp xử trí phù hợp.
0 Nhận xét