Có 8 loại hình
ghép gan khác nhau với 2 nguồn cho: từ người cho chết não và từ người sống.[i]
+ Ghép gan
toàn bộ không đúng vị trí (heterotopic liver transplantation): Đây là mô hình đầu
tiên được thực hiện trong lịch sử ngành ghép gan. Theo đó, phần gan cũ bị bệnh
sẽ được giữ nguyên, phần gan được ghép được cấp máu bằng ĐM chủ chậu và TM chủ
dưới, đầu trên được nối với TM chủ dưới. Chỉ có khoảng 50 ca phẫu thuật áp dụng
kĩ thuật này và hiện nay ít được áp dụng.[ii]
+ Ghép gan
toàn bộ đúng vị trí (orthotopic liver transplantation): Được Jack Cannon mô tả
lần đầu tiên năm 1958 ở mô hình thực nghiệm trên chó.[iii] Phẫu thuật gồm 2 loại
chính: Phẫu thuật thực hiện dưới tuần hoàn ngoài cơ thể và phẫu thuật Piggyback
lấy gan nguyên ủy, bảo tồn đoạn TM chủ dưới sau gan có/không làm shunt TM tạm
thời. Đa số các phẫu thuật ghép gan hiện tại áp dụng kĩ thuật Piggyback không
có shunt TM.

Hình 1.5: Ghép gan toàn bộ đúng vị trí
(Nguồn:
Surgery, Gynecology & Obstetrics 1969 [iv])
+ Ghép gan giảm
thể tích (Reduced-sized hepatic transplantation): Kĩ thuật được áp dụng chủ yếu
cho các bệnh nhân trẻ em, được mô tả lần đầu tiên bởi tác giả Bismuth và
Houssin.[v] Một yêu cầu của kĩ thuật
này là trọng lượng của người cho không vượt quá 5 lần của người nhận. Kĩ thuật
này hiện nay ít được áp dụng, được thay thế bằng kĩ thuật chia gan để ghép để
tiết kiệm mảnh ghép.
+ Chia gan để
ghép: Được mô tả lần đầu tiên bởi tác giả Bismuth và Pichlmayr.[vi] Kĩ thuật này chia gan
thành 2 phần, 2 phần gan được chia sẽ được ghép cho 2 bệnh nhân khác. Có 3 cách
để chia gan: cách 1 là chia gan thành thùy phải và thùy trái (hạ phân thùy II,
III) được áp dụng để ghép cho bệnh nhân nhi, cách 2 là chia thành gan phải (HPT
V, VI, VII, VIII) và gan trái (HPT I, II, III, IV) hoặc cách 3 là chia thành
gan phải (HPT I, V, VI, VII, VIII) và gan trái (HPT II, III, IV) để áp dụng cho
người lớn.
+ Ghép gan phụ
trợ: Trước đây mô hình này hay được áp dụng, tuy nhiên xu hướng hiện này là
ghép gan toàn bộ đúng vị trí do phương pháp này không đảm bảo được khả năng cấp
máu của mảnh ghép.
+ Ghép gan từ
người hiến sống: Ghép gan từ người hiến sống được áp dụng do nguồn tạng từ người
cho chết não khan hiếm. Kĩ thuật này được áp dụng lần đầu tiên vào năm 1988 do BS Raia Silvaro thực hiện ở bệnh nhân nhi
bị teo đường mật bẩm sinh. Có 3 phương pháp ghép theo kĩ thuật này bao gồm: người
lớn cho trẻ em, người lớn cho người lớn và hai trẻ em cho người lớn.

Hình 1.6: Ghép gan phải từ người hiến sống
(Nguồn: UNOS 2016[vii])
+ Ghép gan
Domino: Bệnh nhân mắc bệnh lý đa dây thần kinh dạng bột có tính gia đình, liên
quan đến đột biến trội trên NST 18 có tính di truyền được ghép gan, gan bệnh lấy
ra được ghép cho người nhận lớn tuổi có thể nhận được lợi ích từ gan bệnh nhưng
tiên lượng sống không đủ lâu để bị các biến chứng rối loạn chức năng chuyển hóa
amyloid của gan ghép.
+ Ghép gan lấy gan từ động vật: Kĩ thuật này còn nhiều
hạn chế về mặt pháp lý, dung nạp miễn dịch người nhận, thuốc chống thải ghép,
nguy cơ lây nhiễm… nhưng cũng giải quyết phần nào các trường hợp sự khan hiếm
nguồn tạng.
[i] Nguyễn Tiến Quyết, Nguyễn Quang Nghĩa.
Ghép Gan Người Lớn. Nhà Xuất Bản Y Học; 2013.
[ii] A. K. Chui et al., “Primary Graft
Dysfunction after Liver Transplantation,” Transplantation Proceedings.
2000; 32(7): 2219–20, https://doi.org/10.1016/s0041-1345(00)01642-0.
[iii] Nguyễn Quang Nghĩa, Ghép gan từ người hiến
sống. Nhà xuất bản Y học. 2017.
[iv] Samane Nobakhti, “Liver Transplant Donation Process –
IHT Health Tourism Facilitator Company in Iran,” accessed November 14, 2022,
https://iht.health/liver-transplant-donation-process/.
[v] J. G. Fortner et al., “The Case for and
Technique of Heterotopic Liver Grafting,” Transplantation Proceedings.
1979; 11(1): 269–75.
[vi] H. Bismuth and D. Houssin, “Reduced-Sized
Orthotopic Liver Graft in Hepatic Transplantation in Children,” Surgery
. 1984; 95(3): 367–70.
[vii] Lee Bolton, “Split Versus Whole Liver
Transplantation,” n.d., 12.
0 Nhận xét